Arirang - Biểu tượng tâm hồn Hàn Quốc

Mục Lục

Arirang - Biểu tượng tâm hồn Hàn Quốc

 
Arirang (Hangul: 아리랑; Hanja: 阿里郎; Hán-Việt: A Lý Lang) là một bài dân ca Triều Tiên, thường được xem là quốc ca không chính thức của Hàn Quốc. Nó được dùng để chỉ chung cho những bài hát dân ca mà phần điệp khúc có chứa từ “Arirang” hay “Arari”. Arirang được coi là một trong số ít những bài dân ca mà người Hàn Quốc nào cũng hát được bởi nó nổi tiếng không chỉ vì vẻ đẹp của giai điệu, mà còn ở sự phong phú của nó.
Về nguồn gốc điệu dân ca này, có giả thuyết cho rằng Arirang ra đời từ thời Shilla, hơn 1000 năm truớc. Bởi lẽ, người ta tìm thấy trong lời của bài hát ca ngợi sự trinh tiết của Aryong, vợ người sáng lập ra triều đại Shilla, đã sử dụng điệp khúc Aryong Arirang.Cũng có người cho rằng điệu Arirang có cách đây khoảng 600 năm, từ vùng Jeongseon, bởi lẽ, Arirang vùng Jeongseon được đánh giá là hay nhất, chuẩn mực nhất, nhiều nhất với ca từ đẹp, nhạc điệu chậm rãi, xốn xang, day dứt. Còn giả thuyết khác lại cho rằng Arirang ra đời khoảng thế kỷ 19, thời kỳ cuối của triều đại Jeonseon, với những người công nhân đang xây lại lâu đài Gyeongbok vốn bị người Nhật phá huỷ từ thế kỷ 16. Họ dùng điệu Arirang để tự an ủi lòng mình trong những tháng ngày lao động cơ cực.
 
Nội dung của Arirang là toàn bộ đời sống tâm hồn người Hàn: tình yêu, hạnh phúc, bất hạnh, nỗi khổ đau, những nhọc nhằn vất vả, sự không bằng lòng về cuộc sống hiện tại, lời than thân, trách móc, hờn giận… Từ ngữ của lời ca Arirang thường buồn rầu, đa cảm, có lúc đến mức thảm thương, nhịp điệu khoan thai, thậm chí rất chậm, nó có gì đó giống với những vang động sâu thẳm nhất từ trái tim Hàn Quốc: sự giận dữ và nỗi đau đớn.
 

 
Bên cạnh đó, Arirang cũng là những lời ca nói về cuộc sống lao động nhọc nhằn vất vả, là những tâm tình của người lao động đặc biệt, nó còn làm cho những công việc nặng nhọc trở nên thú vị, đỡ nặng nề hơn. Có cụ già 68 tuổi đã nói: “Tôi thường hát Arirang trong khi làm việc. Từ khi tôi 12 tuổi, tôi đã nghe và thấy bố mẹ tôi hát Arirang, vì thế tôi cũng hát Arirang”.
 
Cũng có người cho rằng Arirang quá buồn bã và thiếu tinh thần mạnh mẽ. Nhưng biết thế nào được, có khi những lời ca buồn lại làm tâm hồn cứng cỏi hơn bao giờ hết, có sức làm hoá giải mọi nỗi đau, niềm giận dữ, hơn cả mọi khúc ca hùng tráng. Bởi lẽ, sức mạnh của lời ca buồn không phải lúc nào cũng kéo con người chìm nghỉm mà có khi lại giúp họ đứng vững, kiên cường hơn, bởi trong đó, bên cạnh nỗi buồn còn có niềm hy vọng, bên cạnh sự than thân còn có sự tự ý thức, bên cạnh nỗi buồn chia ly còn có niềm mơ ước đoàn tụ, bởi những mơ ước không bao giờ bị dập tắt trong những lời ca. Khi con người hoá giải mọi nỗi buồn, niềm đau vào cái đẹp, thì nghĩa là họ đang hướng tới sự vĩnh cửu. Mà điều này, chính Biêlinxki đã nói, đó là “nỗi buồn trong sáng” làm tiếp thêm nghị lực sống cho con người.
Cái dịu dàng, mềm mại của điệu hát cũng như mọi nỗi khắc khoải chờ mong, hy vọng, đã làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng và cởi mở hơn. Chính sự giao lưu cởi mở lòng mình sẽ làm con người thấy cuộc đời có‎ ý nghĩa hơn, dám bước qua mọi niềm đau để mà tồn tại.
Do đó không phải ngẫu nhiên điệu Arirang năm 1976 đã được giới thiệu ở Mỹ do dàn nhạc Paul Mauriat biểu diễn với cái tên “Tình yêu phương Đông”, nội dung là lời tâm sự của một cô gái đang thất vọng về tình yêu.Cảm xúc buồn thương và giai điệu trầm buồn, nhịp điệu khoan thai chậm rãi của bài hát tạo nên một sức quyến rũ đặc biệt, đã giải thích vì sao Arirang lại là điệu dân ca phổ biến nhất ở Hàn Quốc. Đặc biệt, điệu Arirang hiện giờ vẫn vang lên ở những nơi có người Hàn trên khắp thế giới và ở cả những cuộc thi Olympic thể thao có người Hàn tham dự để động viên tinh thần họ.

Gửi

button_hotline
button_hotline